Tư Vấn Luật
17/06/2026 16:44Quyền lợi bảo hiểm y tế và mức hưởng bảo hiểm y tế có gì mới từ ngày 1/7/2026
Từ ngày 1/7/2026, các quy định mới về chính sách bảo hiểm y tế (BHYT) chính thức có hiệu lực theo Luật BHYT, Nghị định số 188/2025/NĐ-CP và Nghị định số 161/2026/NĐ-CP của Chính phủ. Đây là nội dung được nêu tại Công văn số 302/CSYT-CĐ ngày 01/6/2026 của Ban Thực hiện chính sách BHYT, BHXH Việt Nam. Trong đó, các điều chỉnh tập trung mở rộng quyền lợi người tham gia bảo hiểm y tế đồng thời cập nhật mức hưởng và mức đóng theo mức lương cơ sở mới.

Quyền lợi bảo hiểm y tế từ 1//7/2026
Đầu tiên người tham gia BHYT sẽ được Quỹ BHYT thanh toán tỷ lệ 50% chi phí khám ngoại trú trái tuyến theo mức hưởng trong phạm vi quyền lợi đối tượng, khi khám tại cơ sở khám chữa bệnh cấp cơ bản trên 50 điểm, tạm xếp cấp cơ bản, cơ sở cấp chuyên sâu mà trước 1/1/2025 được xếp tuyến tỉnh.
Ví dụ, cách tính 1 số trường hợp cụ thể như sau:
Bệnh nhân A có mức hưởng BHYT của đối tượng là 100% chi phí khám chữa bệnh, khi đi khám trái tuyến có tổng chi phí của lần khám là 1.000.000 đồng tại bệnh viện tỉnh cấp xếp cấp cơ bản, thì bệnh nhân sẽ được Quỹ BHYT thanh toán như sau: 1.000.000 đồng x 100% x 50% = 500.000 đồng. Như vậy, phần đồng chi trả của bệnh nhân chỉ còn 500.000 đồng.
Trường hợp bệnh nhân B có mức hưởng BHYT của đối tượng là 80% chi phí khám chữa bệnh, khi khám trái tuyến có tổng chi phí của lần khám là 1.000.000 đồng tại bệnh viện tỉnh cấp xếp cấp cơ bản, thì bệnh nhân được Quỹ BHYT thanh toán như sau: 1.000.000 đồng x 80% x 50% = 400.000 đồng. Phần đồng chi trả của bệnh nhân còn 600.000 đồng.
Tiếp theo, người tham gia BHYT có tổng chi phí trong 1 lần khám chữa bệnh dưới 15% mức lương cơ sở mới điều chỉnh là 2,53 triệu đồng/tháng làm căn cứ tính toán nhiều quyền lợi BHYT - tức là bằng hoặc dưới 379.500 đồng, nếu khám chữa bệnh đúng tuyến thì sẽ được miễn hoàn toàn chi phí khám. Cụ thể, người dân được quỹ BHYT chi trả 100% chi phí này tại cơ sở khám chữa bệnh thuộc tất cả các cấp chuyên môn kỹ thuật ban đầu, cơ bản, chuyên sâu.
Còn nếu người tham gia bảo hiểm y tế khám chữa bệnh trái tuyến thì được hưởng theo tỷ lệ mức hưởng quy định tại Khoản 4 Điều 22 Luật Bảo hiểm y tế theo công thức: Tổng chi phí khám chữa bệnh nhân với tỷ lệ hưởng theo từng điểm cụ thể tại Khoản 4 Điều 22 Luật Bảo hiểm y tế.
Ví dụ: Trường hợp bệnh nhân có tổng chi phí khám chữa bệnh là 370.000 đồng thì theo điểm a Khoản 4 Điều 22 Luật Bảo hiểm y tế, với 100% mức hưởng khi khám chữa bệnh tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản hoặc cấp chuyên sâu trong trường hợp chẩn đoán xác định, điều trị một số bệnh hiếm, bệnh hiểm nghèo, bệnh cần phẫu thuật hoặc sử dụng kỹ thuật cao do Bộ trưởng Bộ Y tế quy định, thì người bệnh được Quỹ BHYT thanh toán: 370.000 đồng x 100% = 370.000 đồng. Bệnh nhân không phải đồng chi trả.
Đối với đối tượng hưởng 80% chi phí khám chữa bệnh do Quỹ BHYT chi trả, thì tổng chi phí là: 370.000 đồng x 100% x 80% = 296.000 đồng. Bệnh nhân đồng chỉ chi trả thêm 74.000 đồng.
Theo điểm c Khoản 4 Điều 22 Luật Bảo hiểm y tế, với 40% mức hưởng khi khám chữa bệnh nội trú tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp chuyên sâu, trừ trường hợp quy định tại các điểm a, b, đ và h khoản này, thì được Quỹ BHYT thanh toán mức: 370.000 đồng x 100% x 40% = 148.000 đồng. Bệnh nhân tự chi trả 222.000 đồng.
Đối với đối tượng hưởng 80% thì tổng chi phí là: 370.000 đồng x 40% x 80% = 118.400 đồng. Bệnh nhân tự trả thêm 251.600 đồng.
Đồng thời, người tham gia BHYT 5 năm liên tục trở lên sẽ được quỹ chi trả 100% chi phí trong phạm vi hưởng khi số tiền cùng chi trả trong năm vượt quá 6 lần mức lương cơ sở (tương đương 15.180.000 đồng).
Mức thanh toán đối với một số dịch vụ kỹ thuật cũng được điều chỉnh. Theo đó, trường hợp người tham gia BHYT được chỉ định thực hiện dịch vụ kỹ thuật thì quỹ BHYT thanh toán tổng chi phí thiết bị y tế cho một lần sử dụng dịch vụ kỹ thuật không vượt quá 45 tháng lương cơ sở (tương đương 113,850.000 đồng).
Theo quy định hiện hành, hệ thống khám chữa bệnh ở Việt Nam được phân thành 3 cấp chuyên môn kỹ thuật gồm: Ban đầu - Cơ bản - Chuyên sâu chứ không phân tuyến xã - huyện - tỉnh - trung ương như cũ. Cụ thể như sau:
4 bệnh viện được xếp cấp chuyên sâu kỹ thuật cao là các bệnh viện: Bạch Mai - Chợ Rẫy - Đa khoa Trung ương Huế - Bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh. Các bệnh viện này đều có số điểm hơn 90.

Ngoài ra có 25 đơn vị được xếp cấp chuyên sâu, số điểm đạt từ 71 đến 86. Cụ thể, ở Hà Nội có 20 bệnh viện cấp chuyên sâu gồm: Hữu nghị Việt Đức, Nhi Trung ương, E, K (3 cơ sở), Nội tiết Trung ương, Răng hàm mặt Trung ương Hà Nội, Phổi Trung ương, Mắt Trung ương, Da liễu Trung ương, Y học cổ truyền Trung ương, Châm cứu Trung ương, Tâm thần Trung ương I, Lão khoa Trung ương, Tai - Mũi - Họng Trung ương, Phụ sản Trung ương, Bệnh Nhiệt đới Trung ương, Đại học Y Hà Nội và Viện Huyết học truyền máu Trung ương.

Tại TP Hồ Chí Minh và các địa phương khác có 5 bệnh viện chuyên sâu bao gồm: Răng hàm mặt Trung ương TP Hồ Chí Minh, Thống Nhất, Đa khoa Trung ương Cần Thơ, C Đà Nẵng và Đa khoa Trung ương Thái Nguyên.
Và 19 đơn vị được xếp cấp cơ bản dù trước đây là bệnh viện tuyến trung ương như Bệnh viện Hữu Nghị, Bệnh viện Trung ương Huế Cơ sở 2, Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam - Cuba Đồng Hới...

Còn bệnh viện thực hành của các trường đại học y dược như: Bệnh viện Đại học kỹ thuật Y tế Hải Dương, Bệnh viện Đại học Y Thái Bình, Bệnh viện Đại học Y Hải Phòng, Bệnh viện Đại học Y Dược Cần Thơ hay Bệnh viện Tuệ Tĩnh thuộc Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam... thì được xếp cấp cơ bản.